Thành viên



Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay29
mod_vvisit_counterHôm qua156
mod_vvisit_counterTrong tuần770
mod_vvisit_counterTrong tháng6475
mod_vvisit_counterThống kê320041
Quản lý chất lượng công trình xây dựng: Thực trạng và giải pháp
Thứ sáu, 12 Tháng 6 2009 14:50

 
I. Đặt vấn đề

Công trình xây dựng là một sản phẩm hàng hóa đặc biệt phục vụ cho sản xuất và các yêu cầu của đời sống con người. Hàng năm vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (NSNN), của doanh nghiệp (DN) của người dân dành cho xây dựng là rất lớn, chiếm từ 25 - 30% GDP. Vì vậy, chất lượng công trình xây dựng (CLCTXD) là vấn đề cần được hết sức quan tâm, nó có tác động trực tiếp đến sự phát triển bền vững, hiệu quả kinh tế, đời sống của con người.

Trong thời gian qua, công tác QLCLCTXD - yếu tố quan trọng quyết định đến CLCTXD đã có nhiều tiến bộ. Với sự tăng nhanh và trình độ được nâng cao của đội ngũ cán bộ quản lý, sự lớn mạnh của đội ngũ công nhân các ngành nghề xây dựng, với việc sử dụng vật liệu mới có chất lượng cao, việc đầu tư thiết bị thi công hiện đại, sự hợp tác học tập kinh nghiệm của các nước có nền công nghiệp xây dựng phát triển cùng với việc ban hành các chính sách, các văn bản pháp quy tăng cường công tác QLCLCTXD, chúng ta đã xây dựng được nhiều công trình xây dựng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi… góp phần quan trọng vào hiệu quả của nền kinh tế quốc dân, xây dựng hàng triệu m2 nhà ở, hàng vạn trường học, công trình văn hóa, thể thao…thiết thực phục vụ và nâng cao đời sống của nhân dân.

Tuy nhiên, bên cạnh những công trình đạt chất lượng, cũng còn không ít công trình có chất lượng kém, không đáp ứng được yêu cầu sử dụng, công trình nứt, vỡ, lún sụt, thấm dột, bong dộp đưa vào sử dụng thời gian ngắn đã hư hỏng gây tốn kém, phải sửa chữa, phá đi làm lại. Đã thế, nhiều công trình không tiến hành bảo trì hoặc bảo trì không đúng định kỳ làm giảm tuổi thọ công trình. Cá biệt ở một số công trình gây sự cố làm thiệt hại rất lớn đến tiền của và tính mạng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư.

II. Thực trạng công tác QLCLCTXD ở nước ta và những nguyên nhân tồn tại

1. Quản lý nhà nước về CLCTXD

CLCTXD là vấn đề hết sức quan trọng, nó có tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh tế, đời sống của con người và sự phát triển bền vững. Đặc biệt ở nước ta vốn đầu tư từ NSNN, DN và nhân dân chiếm tỷ trọng rất lớn trong thu nhập quốc dân, cả nước là một công trình xây dựng. Vì vậy, để tăng cường quản lý dự án (QLDA), CLCTXD, các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương đã:

- Ban hành các văn bản pháp quy như luật, nghị định, thông tư, các tiêu chuẩn, quy phạm xây dựng nhằm tạo ra môi trường pháp lý cho việc tổ chức thực hiện QLCLCTXD.

- Đề ra các chủ trương, chính sách khuyến khích đầu tư trang thiết bị hiện đại, sản xuất vật liệu mới, nghiên cứu và ứng dụng thành tựu khoa học trong xây dựng, đào tạo cán bộ, công nhân nhằm nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu quản lý đầu tư xây dựng nói chung và QLCLCTXD nói riêng.

- Tăng cường quản lý chất lượng thông qua các tổ chức chuyên lo về chất lượng tại các hội đồng nghiệm thu các cấp, các cục giám định chất lượng, phòng giám định.

- Có chính sách khuyến khích các đơn vị, tổ chức thực hiện theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000, tuyên dương các đơn vị đăng ký và đạt công trình huy chương vàng chất lượng cao của ngành, công trình chất lượng tiêu biểu của liên ngành.

Phải thấy rằng với những văn bản pháp quy, các chủ trương chính sách, biện pháp quản lý đó về cơ bản đã đủ điều kiện để QLCLCTXD. Chỉ cần các tổ chức từ cơ quan cấp trên chủ đầu tư (CĐT), CĐT, ban quản lý dự án (BQLDA), các nhà thầu (khảo sát, tư vấn lập dự án đầu tư, thiết kế, tư vấn giám sát, thi công xây lắp) thực hiện đầy đủ chức năng của mình một cách có trách nhiệm theo đúng trình tự quản lý, thực hiện nghiêm các tiêu chuẩn, quy phạm nghiệm thu công trình xây dựng.

 Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng các văn bản pháp quy vào thực tế còn nhiều vấn đề cần thiết phải sửa đổi, bổ sung nhằm tăng cường công tác QLCLCTXD, đó là:

1.1. Những quy định về việc đảm bảo CLCTXD trong Luật Đấu thầu còn thiếu cụ thể và chưa cân đối giữa chất lượng và giá dự thầu. Đó là những quy định có liên quan đến đánh giá năng lực nhà thầu, quy định về CLCTXD trong hồ sơ mời thầu. Đặc biệt là quy định lựa chọn đơn vị trúng thầu chủ yếu lại căn cứ vào giá dự thầu thấp nhất mà chưa tính một cách đầy đủ đến yếu tố đảm bảo chất lượng, đến hiệu quả đầu tư cả vòng đời dự án.

1.2. Những quy định chế tài xử lý, phân rõ trách nhiệm của các chủ thể, đặc biệt là trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong quản lý chất lượng còn thiếu cụ thể, chế tài chưa đủ mạnh để răng đe phòng ngừa:

+ Đối với giai đoạn lập dự án, thiết kế, khảo sát đó là những quy định chế tài đối với CĐT khi vi phạm trình tự, thủ tục đầu tư xây dựng; đối với các nhà thầu khảo sát, thiết kế, thẩm định là những quy định chế tài khi họ vi phạm các quy định về QLCLCTXD

+ Đối với giai đoạn xây dựng đó là những điều quy định chế tài đối với các chủ thể về QLCL trong quá trình đấu thầu, xây dựng, bảo hành, bảo trì.

Cần có chế tài cụ thể vi phạm điều nào, điểm nào thì xử lý thế nào? Phạt bao nhiêu tiền, bao nhiêu % giá trị hợp đồng, đưa vào danh sách “đen”, cấm có thời hạn, vi phạm thế nào thì thu hồi giấy phép kinh doanh, gây hậu quả mức nào thì truy cứu trách nhiệm hình sự.

1.3. Các hoạt động về xây dựng có ảnh hưởng trực tiếp đến con người, môi trường, tài sản. Các DN hoạt động xây dựng phải là các DN kinh doanh có điều kiện. Vì vậy cần phải ban hành các quy định về năng lực của tổ chức này với các quy định trong giấy phép kinh doanh phù hợp với từng cấp công trình (ở Trung Quốc DN xây lắp chia thành 4 cấp, tư vấn 3 cấp do Nhà nước cấp chứng chỉ hoạt động xây dựng).

1.4. Về công tác đào tạo còn mất cân đối giữa thầy và thợ, đặc biệt đội ngũ đốc công, thợ cả. Công tác đào tạo cán bộ QLDA, CĐT chưa được coi trọng, nhiều CĐT, BQLDA làm trái ngành, trái nghề, không đủ trình độ năng lực lại không được đào tạo kiến thức QLDA.

1.5. Công tác thanh tra, kiểm tra xây dựng, QLCLXD còn chưa được coi trọng, đúng mức và hoạt động còn hạn chế, thiếu một mạng lưới kiểm định chất lượng xây dựng trong quy phạm cả nước, đặc biệt là nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức này còn hạn chế.

1.6. Còn lẫn lộn chức năng quản lý nhà nước và quản lý kinh doanh (bộ chủ quản, sở chủ quản), còn thiếu tập trung kinh phí và kế hoạch cho việc xây dựng đầy đủ các tiêu chuẩn thiết kế, thi công, nghiệm thu cho việc thi công công nghệ mới.

2. QLCLCTXD của các chủ thể trực tiếp tham gia xây dựng công trình

CĐT, tổ chức tư vấn (giám sát, thiết kế, khảo sát, thẩm định), nhà thầu xây lắp  là 3 chủ thể trực tiếp QLCLCTXD. Thực tế đã chứng minh rằng dự án, công trình nào mà 3 chủ thể này có đủ năng lực quản lý, thực hiện đầy đủ các quy định hiện hành của Nhà nước, tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ các quy định về QLCL trong các hợp đồng kinh tế, đặc biệt các tổ chức này độc lập, chuyên nghiệp thì tại đó công tác QLCL tốt và hiệu quả.

2.1. CĐT - BQLDA

CĐT là người chủ đồng vốn bỏ ra để đặt hàng công trình xây dựng, họ là người chủ đưa ra các yêu cầu kỹ thuật đảm bảo chất lượng cho các nhà thầu trong lập dự án, khảo sát, thiết kế đến giai đoạn thi công xây lắp, vận hành, bảo trì, vì vậy họ là chủ thể quan trọng nhất quyết định CLCTXD.

Đối với CĐT là vốn của tư nhân, của nước ngoài đồng tiền bỏ ra từ túi tiền riêng của họ nên việc QLDA nói chung cũng như QLCL nói riêng của cả quá trình được hết sức quan tâm, từ quá trình thẩm định, duyệt hồ sơ thiết kế đến cả giai đoạn thi công xây lắp, bảo trì. Trừ công trình nhỏ lẻ họ tự quản lý, còn đa số các dự án họ đều thuê tổ chức tư vấn chuyên nghiệp thực hiện QLCLCT thông qua các hình thức: tổ chức tư vấn quản lý dự án, tổ chức tư vấn giám sát độc lập để kiểm tra chất lượng công trình suốt vòng đời của dự án.

Trường hợp vốn đầu tư từ NSNN thì CĐT là ai? Các CĐT hiện nay không phải là chủ đồng tiền vốn đầu tư, thực chất CĐT được nhà nước ủy nhiệm để quản lý vốn đầu tư xây dựng, họ không phải là chủ thực sự, mà được thành lập thông qua quyết định hành chính. Thực trạng hiện nay nhiều CĐT không có đủ năng lực, trình độ, thiếu hiểu biết về chuyên môn xây dưng, nhiều trường hợp làm kiêm nhiệm, vì vậy công tác QLCLCTXD còn rất hạn chế.

Vì vậy nhiều ý kiến đề nghị nghiên cứu việc tách chức năng CĐT là ông chủ đồng vốn nhà nước, đồng thời là người trực tiếp quản lý sử dụng công trình với tư vấn QLDA (là đơn vị làm thuê) thông qua hợp đồng kinh tế. Tổ chức tư vấn QLDA, tư vấn giám sát là tổ chức chuyên nghiệp, độc lập (trừ các dự án có quy mô nhỏ, đơn giản).

2.2. Tổ chức tư vấn dự án, khảo sát, thiết kế

Với tốc độ tăng nhanh của vốn đầu tư xây dựng hàng năm, hàng vạn dự án vốn của Nhà nước, và của các thành phần kinh tế, của nhân dân được triển khai xây dựng, do vậy các đơn vị tư vấn lập dự án, giám sát, thiết kế tăng rất nhanh lên đến hàng nghìn đơn vị. Bên cạch một số đơn vị tư vấn, khảo sát thiết kế truyền thống, lâu năm, có đủ năng lực, trình độ, uy tín, còn nhiều tổ chức tư vấn khảo sát, thiết kế năng lực còn hạn chế, thiếu hệ thống quản lý chất lượng nội bộ. Mặt khác, kinh phí cho công việc này còn thấp, dẫn đến chất lượng của công tác lập dự án, khảo sát, thiết kế chưa cao, còn nhiều sai sót.

2.2.1. Đối với giai đoạn lập dự án

- Khảo sát chưa kỹ, lập dự án theo chủ quan của CĐT

- Khâu thẩm định dự án chưa được coi trọng. Các ngành tham gia còn hình thưc, trình độ năng lực của cán bộ thẩm định còn hạn chế

2.2.2. Đối với lĩnh vực khảo sát, thiết kế

- Khảo sát phục vụ thiết kế còn sơ sài, thiếu độ tin cây

- Hệ thống kiểm tra nội bộ của tổ chức khảo sát, thiết kế chưa đủ, chưa tốt còn tình trạng khoán trắng cho cá nhân, tổ đội

- Công tác thẩm định còn sơ sài, hình thức

2.3. Tổ chức tư vấn giám sát (của CĐT hoặc thuê tổ chức giám sát độc lập)

Là người thay mặt cho CĐT trực tiếp giám sát, nghiệm thu các công việc trong suốt quá trình xây dựng, thông qua việc kiểm tra công việc hàng ngày, ký các biên bản nghiệm thu từng phần, từng bộ phận công trình

Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới thường sử dụng tổ chức tư vấn giám sát chuyên nghiệp, độc lập. Các cán bộ làm việc trong tổ chức tư vấn giám sát này thường là những cán bộ có năng lực, trình độ, kinh nghiệm cao, có đạo đức nghề nghiệp, lương khá cao. Do vây việc thực hiện việc giám sát chất lượng rất chặt chẽ, bài bản

Đối với công trình trong nước là công trình trọng điểm, quan trọng có đơn vị tư vấn giám sát độc lập, có đủ năng lực và uy tín thì ở đó việc QLCL chắc chắn sẽ tốt hơn.

Tuy nhiên, do tốc độ phát triển xây dựng rất nhanh, lớn trong khi chưa có các công ty tư vấn giám sát chuyên nghiệp, tình trạng chung là các công ty tư vấn thiết kế mới bổ sung thêm nhiệm vụ này, đã thế lực lượng cán bộ tư vấn giám sát thiếu và yếu, trình độ năng lực, kinh nghiệm thi công còn rất hạn chế, ít được bồi dưỡng, cập nhật nâng cao trình độ về kỹ năng giám sát, về công nghệ mới, chế độ đãi nghộ hạn chế, do phí quản lý giám sát còn thấp nên hạn chế đến công tác quản lý tổ chức tư vấn giám sát.

2.4. Nhà thầu thi công xây lắp

Đây là chủ thể quan trọng quyết định đến việc quản lý và đảm bảo CLTCXDCT.

Thời gian qua các nhà thầu trong nước đã phát triển rất mạnh cả số lượng và chất lượng. Nhận rõ tầm quan trọng của công tác QLCL là thương hiệu, là uy tín của đơn vị mình, là vấn đề sống còn trong cơ chế thị trường, nên nhiều tổng công ty, công ty đã xây dựng hệ thống QLCL theo tiêu chuẩn quốc tế.

Tuy nhiên, thời gian qua lại có không ít công trình thi công không đảm bảo chất lượng gây lún sụt, sập đổ, nhiều công trình thấm, dột, bong rộp, nứt, vỡ, xuống cấp rất nhanh mà nguyên nhân của nó là:

- Còn  khá nhiều nhà thầu không thực hiện nghiêm những quy định hiện hành của Nhà nước là phải có hệ thống QLCL theo yêu cầu, tính chất quy mô công trình xây dựng, trong đó quy định rõ trách nhiệm của từng cá nhân, đồng thời mọi công việc phải được nghiệm thu nội bộ trước khi mời giám sát nghiệm thu ký biên bản. trong thực tế, nhiều đơn vị không thực hiện các quy định này; không bố trí đủ các bộ giám sát nội bộ, thậm chí còn khoán trắng cho các đội thi công và phó mặc cho giám sát của CĐT.

- Một điều rất quan trọng đối với các nhà thầu là việc lập biện pháp tổ chức thi công công trình, đặc biệt đối với các công trình lớn, trọng điểm, nhiều công việc có khối lượng lớn, phức tạp, ứng dụng nhiều công nghệ mới, nếu làm tốt công việc này thì đã đảm bảo phần rất quan trọng để QLCLCT. Rất tiếc rằng thời gian qua công việc này chưa được các nhà thầu quan tâm đúng mức dẫn đến các sai phạm, sự cố công trình (ví dụ biện pháp thi công cầu Cần Thơ, thi công đầm lăng thủy điện Sơn La, hầm Thủ Thiêm…).

Nhiều đơn vị đã xây dựng và được công nhận đạt tiêu chuẩn ISO 9001:2000 nhưng khi triển khai vẫn còn hình thức, chủ yếu là văn phòng công ty mà thiếu lực lượng cũng như tổ chức thực hiện tại hiện trường xây dựng.

- Đội ngũ cán bộ, công nhân của nhà thầu tăng nhanh về số lượng nhưng chất lượng còn chưa đáp ứng, thiếu cán bộ giỏi có kinh nghiệm quản lý, đặc biệt thiếu các đốc công giỏi, thợ đầu đàn. Nhiều đơn vị sử dụng công nhân không qua đào tạo, công nhân tự do, công nhân thời vụ, đã thế việc tổ chức hướng dẫn, huấn luyện công nhân tại chỗ lại rất sơ sài. Việc tổ chức đào tạo nâng cao tay nghề cho cán bộ và công nhân còn rất nhiều hạn chế.

- Một số nhà thầu, do những nguyên nhân khác nhau đã hạ giá thầu một cách thiếu căn cứ để có công trình hoặc do phải “chi” nhiều khoản ngoài chế độ (tiêu cực) cho đối tác hoặc bản thân dính tiêu cực, tư túi cá nhân… nên đã tìm cách “hạ chất lượng sản phẩm” để bù đắp.

2.5. Thực trạng công tác QLCLCT trong giai đoạn bảo trì

Công tác bảo trì công trình thông qua các công đoạn duy tu, sửa chữa nhỏ, sửa chữa vừa và lớn nhằm đảm bảo CLCT trong giai đoạn sử dụng đến hết niên hạn hoặc kéo dài niên hạn sử dụng. Đó là công việc có ý nghĩa rất lớn.

Hiện nay công tác này được thực hiện chủ yếu ở các công trình giao thông, đê đập lớn, một số công trình công nghiệp, do đó đã kịp thời sửa chữa các khuyết tật. Công việc duy tu, sửa chữa định kỳ đã được thực hiện bởi các lực lượng chuyên nghiệp nhằm bảo vệ gìn giữ công trình có được chất lượng sử dụng tốt nhất đảm bảo sử dụng công trình đúng niên hạn, tuổi thọ theo thiết kế. Nhiều nhà khoa học đã tổng kết, đầu tư một đồng vốn cho bảo trì, kết quả bằng 5 đồng vốn cho đầu tư mới. Vì vậy việc bố trí kế hoạch, vốn cho công tác bảo trì có ý nghĩa rất lớn.

Tuy nhiên công tác bảo trì còn chưa được coi trọng đúng mức, nhiều công trình không được bảo dưỡng, sửa chữa kịp thời đúng thời hạn làm cho công trình xuống cấp nhanh chóng (thép làm cầu bị rỉ, dầm bê tông nứt vỡ, lớp bảo vệ bị phá hỏng dẫn đến ăn mòn cốt thép, đê đập bị sụt lỡ, nhà cửa bị thấm dột, hư hại thép chịu lực) thậm chí nhiều công trình không có kế hoạch, nguồn vốn để thực hiện duy tu, bảo trì, điển hình là các nhà chung cư, công trình phúc lợi công cộng (trường học, bệnh viên, nhà hát…) dẫn đến công trình xuống cấp, tuổi thọ rất ngắn, hỏng trước thời hạn gây lãng phí tiền của rất lớn mà chẳng ai chịu tráh nhiệm.

III. Các giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường công tác QLCLCTXD

1. Rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật nhằm tăng cường công tác QLCLCT

1.1. Bổ sung các quy định, các chế tài đối với các chủ thể tham gia xây dựng công trình trong việc thực hiện đảm bảo chất lượng của các công trình xây dựng; quy định rõ chế tài trách nhiệm của tổ chức, các nhân khi vi pham. Các quy định này rất chi tiết, cụ thể xử lý cho từng hành vi vi phạm.

1.2. Nghiên cứu QLDA dưới hình thức công ty tư vấn quản lý dự án chuyên nghiệp, các công ty này “làm thuê” cho CĐT, kể cả việc cho đầu thầu quản lý dự án như một nhà thầu chuyên nghiệp (trừ những dự án có quy mô nhỏ, đơn giản).

1.3 Bổ sung các quy định của quy chế đầu thầu trong Luật Đấu thầu về việc đảm bảo CLCTXD trong hồ sơ mời thầu. Việc lựa chọn nhà thầu, hợp đồng và quá trình thực hiện hợp đồng, trong đó liên quan đến tiêu chuẩn xét trúng thầu tùy theo cấp công trình, yêu cầu chất lượng của công trình để đề ra điểm xét thầu trong mối tương quan giưa chất lượng kỹ thuật và giá cho phù hợp, không hoàn toàn dựa trên giá thầu thấp nhất khi đủ điểm kỹ thuật như hiện nay.

1.4. Bổ sung các quy định trong Luật Xây dựng. Các doang nghiệp hoạt động xây dựng là loại hình kinh doanh có điều kiện, bắt buộc các tổ chức nhà thầu (tư vấn, khảo sát và xây lắp) phải có chứng chỉ năng lực theo cấp công trình.

1.5. Có kế hoạch xây dựng, bổ sung các hướng dẫn, tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm thiết kế thi công còn thiếu, nhất là đối với các loại kết cấu, công nghệ mới.

1.6 Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung định mức tăng phí phục vụ cho lập dự án, khảo sát, thiết kế, thẩm định, đặc biệt là phí giám sát và tăng đơn giá nhân công trong xây dựng là loại nghề nghiệp loại 1 (trong điều kiện công nhân xây dựng phải làm việc ngoài trời, nắng, rét, phụ thuộc thời tiết, không ổn định).

1.7. Bổ sung các quy định về bảo trì, sửa chữa nhỏ, sửa chữa lớn theo định kỳ, cho từng cấp công trình, đặc biệt đối với công trình hạ tầng kỹ thuật phục vụ chung, công trình phúc lợi xã hội, nhà cơ quan, chung cư…

2. Nghiên cứu ban hành các chính sách liên quan nhằm nâng cao CLCTXD

2.1. Có chính sách khuyến khích các DN tổ chức thực hiện và được cấp chứng chỉ QLCL theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000, hệ thống quản lý môi trường ISO 14000 (ưu tiên trong đấu thầu, chọn thầu…).

2.2. Có chính sách phù hợp để tăng kinh phí đào tạo cán bộ, đào tạo công nhân lành nghề, đáp ứng được yêu cầu ngày càng lớn của ngành Xây dựng từ nguồn NSNN, DN và người học.

2.3. Có chính sách khuyến khích các tổ chức tư vấn quản lý điều hành dự án, tổ chức tư vấn giám sát chuyên nghiệp - độc lập thông qua việc quy định về việc cấp chứng chỉ hành nghề kỹ sư chuyên nghiệp phù hợp với điều ước tham gia công nhận lẫn nhau kỹ sư chuyên nghiệp trong ASEAN.

2.4. Có chính sách khuyến khích áp dụng công nghệ tiên tiến, vật liệu xây dựng mới nhằm nâng cao chất lượng và tuổi thọ của công trình.

2.5. Có chính sách phát huy vai trò của tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong QLCLCTXD, kể cả việc thực hiện chuyển một số dịch vụ công cho tổ chức xã hội – nghề nghiệp thực hiện (đào tạo, cấp chứng chỉ hành nghề, giám định, công nhận công trình chất lượng cao, lên danh sách đơn vị, cá nhân vi phạm chất lượng…)

3. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nhằm tăng cường công tác QLCLCTXD

Thành lập hệ thống mạng lưới kiểm định CLXD trong phạm vi toàn quốc ở trung ương và địa phương đối với các công trình xây dựng. Đặc biệt chế độ bắt buộc kiểm tra công tác quản lý chất lượng đối với các công trình sử dụng vốn NSNN./.

(Theo Trần Ngọc Hùng, Chủ tịch Hội Xây dựng Việt Nam -Tạp chí Người xây dựng số 05/09)